Tâm Lý Người Bệnh

TÂM LÝ NGƯỜI BỆNH

Khi bị bệnh tâm lý người bệnh không thể không bị thay đổi. Sự thay đổi tâm lý thể hiện trong mối quan hệ tương hỗ giữa hiện tượng tâm lý và bệnh tật và mối quan hệ giữa tâm lý người bệnh và môi trường xung quanh.

Tâm lý học nghiên cứu tâm lý người bệnh trong hai mối quan hệ này được gọi là tâm lý học người bệnh. Những vấn đề lý luận và thực hành của tâm lý học phần nào giúp các thầy thuốc đi sâu tìm hiểu sự phát sinh, phát triển của bệnh tật, chẩn đoán và điều trị hợp lý cũng như giúp người bệnh có thái độ đúng đắn về bệnh tật của mình, tích cực hợp tác cũng thầy thuốc trong dự phòng và điều trị bệnh.

I. BỆNH TẬT VÀ BỆNH NHÂN

1. Khái niệm về bệnh

Bệnh là những tổn thương thực thể hay cơ năng ở một bộ phận hay nhiều bộ phận cơ thể ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của con người làm cho con người khó chịu, đau đớn.

Bệnh có thể là một bệnh thực thể, một bệnh cơ năng có những bệnh hoàn toàn do căn nguyên tâm lý (như hysteria…).

2. Khái niệm về bệnh nhân

Là người bị bệnh, người đau khổ, bị rối loạn sự thoải mái về cơ thể, tinh thần và xã hội, bị rối loạn những thích nghi sinh học, tâm lý xã hội với cảm giác bị phụ thuộc vào bệnh với nhận cảm tự do bị hạn chế.

II. NHƯNG BIỂU HIỆN TÂM LÝ Ở BỆNH NHÂN

Bệnh tật tác động đến tâm lý và ngược lại bệnh tật chịu sự ảnh hưởng nhất định của tâm lý người bệnh. Bất kỳ một bệnh dù nặng hay nhẹ đều ảnh hưởng đến tinh thần người bệnh. Bệnh ảnh hưởng đến người thân và cả những người xung quanh, đó là sự lo âu thay đổi kinh tế, sinh hoạt và hạnh phúc gia đình.

Bệnh tật làm thay đổi tâm lý người bệnh, có khi chỉ làm thay đổi nhẹ về cảm xúc, song cũng có khi làm biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc toàn bộ nhân cách người bệnh. Thông thường bệnh càng nặng, càng kéo dài thì sự biến đổi tâm lý càng trầm trọng. Bệnh tật có thể làm người bệnh thay đổi từ điềm tĩnh, tự chủ khiêm tốn thành cáu kỉnh, khó tính nóng nảy; từ người chu đáo thích quan tâm đến người khác thành người ích kỷ; từ người vui tính hoạt bát thành người đăm chiêu uể oải nghi bệnh; từ người lịch sự nhã nhặn thành người khắt khe hạnh hoẹ người khác; từ người có bản lĩnh độc lập thành người mê tín dị đoan tin vào những lời bói toán số mệnh…

Song cũng có khi bệnh tật làm cho tâm lý người bệnh theo hướng làm cho họ yêu thương, quan tâm tới nhau hơn, làm cho người bệnh có ý chí quyết tâm cao hơn…

Mỗi người có thái độ khác nhau trước những bệnh tật, bệnh tật là điều bất hạnh không thể tránh được, đành cam chịu mặc cho bệnh tật hoành hành. Có người kiên quyết đấu tranh khắc phục bệnh tật; có người lại sợ hãi lo lắng bệnh tật; đôi khi chúng ta gặp những người bệnh thích thú với bệnh tật. Bên cạnh những người giả vờ bị bệnh có người lại giả vờ như không bị bệnh.

1. Cấu trúc căn nguyên tâm lý của bệnh nhân

Cấu trúc căn nguyên tâm lý của bất kỳ bệnh nào cũng bao gồm các thành tố chủ yếu như nhân cách, các quá trình nhận thức, cảm xúc, thái độ hành vi và mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành tố trong môi trường, hoàn cảnh bệnh tật của người bệnh.

– Phần cơ bản nhất trong cấu trúc căn nguyên tâm lý của người bệnh, đó là nhân cách của người bệnh. Do ảnh hưởng của bệnh tật mà nhân cách có thể bị biến đổi, ngược lại nhân cách biến đổi cũng tác động lên tình trạng bệnh tật, làm cho bệnh nặng lên hoặc nhẹ đi.

– Yếu tố trung tâm trong cấu trúc căn nguyên tâm lý của bệnh là cảm xúc của người bệnh.

– Những yếu tố vật lý, xã hội… của môi trường bên ngoài tác động lên nhân cách của người bệnh, hình thành nên hình ảnh lâm sàng bên trong của người bệnh.

– Người bệnh có những kế hoạch, dự kiến, quyết định đối với bệnh tật. Các kế hoạch, quyết định này được thể hiện bằng hành vi, thái độ, tác phong thích hợp với môi trường, hoàn cảnh bệnh tật.

2. Các biểu hiện tâm lý thường gặp ở bệnh nhân

Tất nhiên mỗi trường hợp hiện tượng tâm lý đều khác nhau tuỳ thuộc loại bệnh, tuỳ thuộc loại thần kinh và tuỳ hoàn cảnh gia đình và nhân cách của người bệnh. Nhưng. có thể nêu tổng quát những biểu hiện thông thường và chủ yếu, chiều hướng nhận thức, thái độ và phản ứng của bệnh nhân. Bệnh dù nhẹ đến đâu cũng làm cho người bệnh lo nghĩ… đó là những hiện tượng tâm lý mới.

2.1. Sợ hãi

Là phản ứng tự nhiên hợp quy luật biểu lộ khả năng tự vệ. Cái sợ còn do người thầy thuốc, nhân viên y tế thiếu thận trọng trong khi nói, chăm sóc (lộ bí mật bệnh tình, cường điệu bệnh tật, doạ dẫm bệnh nhân…); ngoài ra còn sợ chết, sợ không khỏi bệnh.

Trạng thái này hay gặp ở những bệnh nhân lần đầu đến viện, đặc biệt là đối với những bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, họ chưa từng được tiếp xúc với môi trường mới. Khi bị bệnh họ phải tới một môi trường mới phải tiếp xúc với y bác sĩ, với những máy móc hiện đại. Họ rất lúng túng bỡ ngỡ không biết phải trình bày ra sao, phải làm những thủ tục gì khi khám bệnh, xét nghiệm… vì thế họ thường có cảm giác sợ hãi. Đấy là không kể tới thái độ lạnh nhạt hay bực tức thiếu thiện cảm của y bác sĩ, giải thích qua loa đại khái…

Để giải quyết nỗi sợ hãi cán bộ y tế cần:

– Nhẹ nhàng, thái độ luôn đúng mực, ôn tồn giải thích cho bệnh nhân những gì cần thiết để bệnh nhân yên lòng.

– Nhiệt tình chu đáo trong chăm sóc người bệnh.

– Chẩn đoán ra bệnh.

2.2. Lo âu, xao xuyến

Lo âu là cảm nhận có một nguy cơ khó tránh nhưng không định được đó là gì, người bệnh cảm thấy bất lực trước những nguy cơ đó. Lo âu có thể sẽ kèm theo hồi hộp, ngạt thở, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân.

Sự chân tình, bình dị và chân thành của người thầy thuốc và nhân viên y tế sẽ làm dịu nỗi lo âu xao xuyến của người bệnh.

2.3. Trầm cảm

Là trạng thái buồn chán, một ấn tượng ảm đạm mơ hồ rằng thân thể dã bị đổi khác, như bị bỏ rơi, như mất mát một cái gì… không còn tự tin ở chính mình, nhân cách trở nên yếu đuối.

Nếu trầm cảm nặng có thể đưa đến tự sát. Do đó cần phải an ủi động viên tinh thần bệnh nhân.

2.4. Bực tức

Là phản ứng tự nhiên, mỗi khi phải khó chịu, phải bị bó buộc, không làm được mọi việc như ý mình (ví dụ: do bệnh tật làm khó chịu và bó buộc phải nằm một chỗ, kiêng có, phải uống thuốc phải phục tùng nội quy phải thay đổi thỏi quen hoặc nếp sống).

Biểu hiện rõ ràng nhất là cau có khó tính, hay bắt bẻ thậm chí còn hăm doạ. Tuỳ theo nhân cách xảy ra với nhiều mức độ khác nhau kín đáo hay rõ nét.

Thầy thuốc và nhân viên y tế hiểu và chấp nhận như một hiện tượng hợp quy luật tâm sinh lý và đáp ứng bằng sự bình tính hoà nhã tế nhị, kiên trì giải thích cho bệnh nhân một cách ôn tồn.

2.5. Vị kỷ

Là trạng thái tâm lý khiến cho người bệnh hướng mọi suy nghĩ vào bệnh tật và bản thân mình, quan tâm tột bực vào thân xác mình, bệnh nhân chú ý cái gì có liên quan đến bệnh các diễn biến của bệnh, chăm chú nghe mọi sự nhận xét về sức khoẻ của họ từ người khác không bỏ qua sắc mặt, cái lắc đầu của người thấy thuốc, nhân viên y tế.

Thầy thuốc và nhân viên y tế không vì thế mà thành kiến ấn lượn.g, trái lại cần chăm sóc ân cần, giải thích chu đáo.

2.6. Thoái hồi

Là trạng thái quay lại kỳ sơ sinh, là phản ứng tự vệ của người bệnh. Đối với người bệnh, tuỳ theo nặng hay nhẹ, tuỳ theo nhân cách từng người mà biểu hiện thoái hồi ở nhiều mức độ khác nhau, khi bệnh nhân đỡ và dần khỏi thì các biểu hiện thoái hồi mất đi.

Ví dụ: bệnh nhân không quan tâm đến cái gì khác hơn khung cảnh mình đang sống. Bệnh nhân có tâm lý giống như một đứa trẻ muốn có người chơi cùng, muốn được chú ý, hay đòi hỏi và muốn được chiều chuộng.

3. Các trạng thai tâm lý của người bệnh

Trạng thái tâm lý của người bệnh và trạng thái bệnh thực thể có mối quan hệ khăng khít với nhau. Cơ sở tâm lý cửa trạng thái này là các hệ thống chức năng cơ động của phức hợp các tế bào thần kinh có hoạt động thống nhất.

Trong lâm sàng có 3 loại trạng thái tâm lý như sau:

– Trạng thái biến đổi tâm lý: đây là trạng thái nhẹ nhất và có thể gặp ở bất kỳ người bệnh nào. Những biến đổi tâm lý ở đây còn trong giới hạn bình thường. Biến đổi chung nhất là thay đổi hứng thú, thay đổi suy nghĩ, thay đổi tri giác từ thế giới bên ngoài đến bản thân và tới chức năng của cơ thể, quan hệ có tính chọn lọc với người xung quanh, mong muốn được cứu chữa tập trung chú ý vào bệnh tật, đầu óc lộn xộn, ứ đọng nhiều ý nghĩ, thay đổi giọng nói, nét mặt thay đổi điệu bộ một cách đặc biệt, dễ xúc động, cảm giác sống bị đe doạ, thay đổi hồi tưởng về quá khứ.

– Trạng thái loạn thần kinh chức năng với các triệu chứng tâm lý bệnh: trong trạng thái này có sự gián đoạn và rối loạn các quá trình hoạt động thần kinh cao cấp, biểu hiện bằng các hội chứng như suy nhược, nghi bệnh ám ảnh, hysteria, lo âu, rối loạn phân ly… Ở đây ý thức người bệnh không bị rối loạn, bệnh nhân có thái độ phê phán đối với bệnh tật và sức khoẻ của mình.

– Trạng thái loạn thần (kể cả những người mác bệnh thực thể): người bệnh không còn khả năng phán đoán thế giới xung quanh, hành vi của bệnh nhân bị rối loạn và mất khả năng phê phán đối với bệnh tật. Biểu hiện đặc trưng của bệnh này là các hội chứng hoang tưởng và rối loạn ý thức.

Đối với trạng thái tâm lý của người bệnh thực thể có nhiều yếu tố tác động tới như: giai đoạn và đặc điểm của bệnh, đặc điểm nhân cách, các yếu tố tác động tới, các yếu tố nhiễm độc, nhiễm trùng hoàn cảnh bên ngoài và tác động của nó. Từ đó đàn đến những biến đổi đặc biệt của tâm lý.

Trong thực tế rất khó xác định ranh giới giữa các trạng thái tâm lý của người bệnh.

III. CÁC DANG NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI BỆNH

1. Nhận thức đúng đắn và bình thường

Loại này có quá trình hưng phấn cân bằng với ức chế. Số bệnh nhân này chịu ảnh hưởng rất tốt đối với thầy thuốc của mình, phân biệt được cái đúng cái sai.

Bệnh nhân này rất dễ tín nhiệm thầy thuốc, do nhận thức đúng đắn nên bệnh nhân biết được bệnh của mình, bệnh sẽ tiến triển ra sao? Kết quả như thế nào? Bản thân mình phải phấn đấu ra sao để góp phần cùng thầy thuốc khỏi bệnh? Trong loại này còn có một số khá lớn có kiểu thần kinh cân bằng nhưng chậm. Họ suy nghĩ cân nhắc, có chiều sâu, phải qua thực tế mới nhận thức đúng đắn đối với bệnh tật

Đối với bệnh nhân này thầy thuốc không nên hứa xuống mà phải kiên trì, thận trọng, nói sao làm vậy; phải chứng minh bằng thực tế, tinh thần thái độ, phong cách, tài năng của mình, nói ít làm nhiều, phải tác động đến tam lý bệnh nhân. Khi đã gieo cho họ niềm tin thì rất vững chắc nhưng nếu đánh mất niềm tin thì khó bù đắp được thậm chí họ còn định kiến và xa lánh thầy thuốc.

2. Nhận thức cường điệu quá mức

Bệnh nhân kiểu này thường có biểu hiện thần kinh hưng phấn mạnh hơn ức chế, dễ bị khích thích, quan trọng hoá tình trạng sức khoẻ và bệnh tật của mình, dễ bị nổi nóng, dễ bị kích động, dễ phản ứng trên lời nói nét mặt đòi hỏi phục vụ cao, chẩn đoán ngay, chữa bệnh cũng vậy, đòi hỏi bệnh phải được thuyên giảm ngay.

Bệnh nhân này thường chủ quan chỉ tin ở mình nhiều hơn, thường biểu hiện quá mức, quá đáng trong cư xử, nhận xét. Nhạy cảm với cảm giác đan, cô đơn, dễ buồn phiền, dễ mất hy vọng, dễ phản ứng, đồng thời cũng dễ thay đổi ý kiến, chính kiến không kiên định, dễ hoài nghi hoang mang dao động, tự ý tô đậm các triệu chứng, tô đậm tầm nghiêm trọng của bệnh. Do đó dễ hoang mang những tích cực chữa bệnh, thực hiện đầy đủ những yêu cầu của bác sĩ.

Đối với bệnh nhân này thầy thuốc phải phân tích, gợi ý uốn nắn những suy nghĩ quá tầm, những lo lắng hoang mang sợ hãi vô căn cứ, cần hết sức bình tĩnh, không tự ái không dễ bị kích động, càng không được gây gổ to tiếng với bệnh nhân. Gặp những bệnh nhân vô kỷ luật càn quấy thì thầy thuốc phải phát huy tinh thần kiên quyết không khoan nhượng nhưng phải mềm mỏng và thuyết phục.

3. Nhận thức yếu

Những trường hợp này coi thường bệnh tật, đánh giá thấp tính nguy kịch trầm trọng bệnh lý, xem nhẹ các triệu chứng, tính tích cực giảm, ít quan tâm đến các khám nghiệm điều trị.

Có bệnh nhân còn cho rằng thầy thuốc quá quan trọng bệnh tình. Khi bệnh kéo dài thành mãn tính thi coi thường như bệnh loét dạ dầy tá tràng, viêm xoang, viêm phổi… vì đã quá quen với bệnh tật. Họ không chú ý đến lời dặn của thấy thuốc, lừa dối sức khoẻ của chính mình, họ ưu tư mặc cảm, khép kín, tự giải quyết cho mình. Tuy nhiên nếu họ được thầy thuốc giải thích, phân tích cặn kẽ họ sẽ tiếp thu tích cực thực hiện chỉ dẫn của thầy thuốc.

Do đó thầy thuốc cần chú ý nâng đỡ tinh thần tích cực lạc quan của bệnh nhân nhưng không quan trọng hoá vấn đề vì dễ làm bệnh nhân lo lắng quá đáng, luôn gần gũi động viên giúp đỡ bệnh nhân để giải quyết các mặc cảm mặc kệ bệnh tật.

4. Nhận thức không ổn định, loạn nhận thức

Bệnh nhân loại này ý thức thay đổi, có thể do coi thường xem nhẹ bệnh nhưng có lúc lại bi quan lo lắng sợ chết, sợ biến chứng. Từ chỗ không tin mình bị bệnh đến không tin về nhận xét chẩn đoán, điều trị của thấy thuốc.

Có bệnh nhân xấu hổ sợ mất uy tín mà dấu bệnh (bệnh lậu giang mai…); có bệnh nhân lại coi như mình không bị bệnh; có bệnh nhân uể oải không muốn tiếp xúc với ai có lúc lại nóng nảy khó tính dễ phản ứng không tự kiềm chế được.

Tuy vậy nếu được thầy thuốc tìm hiểu, giải thích, cảm thông vẫn giữ được ý thức đúng, khắc phục nhược điểm của mình.

Nhận thức về bệnh phụ thuộc rất nhiều về tuổi tác, mỗi độ tuổi có những biến đổi về nhân thức khác nhau.

– Đối với lứa tuổi trẻ em, học sinh thường hoang mang lo sợ, dễ phản ứng, sợ đau.

– Đối với tuổi thanh niên thường coi thường bệnh, đánh giá cao sức khoẻ của mình, chú ý nhiều đến thẩm mĩ…

– Đối với tuổi trưởng thành thì tâm lý vững vàng hơn và ổn định hơn nên phản ứng với bệnh tật và nhận thức của mình đối với bệnh thường đúng mực hơn và mang dấu vết nhân cách đã hình thành vững chắc.

– Đối với người lớn già thì kiểu cường điệu nhận thức chiếm ưu thế và phổ biến. Bệnh nhân thường bi quan tới tác hại của bệnh, đánh giá thấp sức khoẻ khả năng chống đỡ của mình, bệnh nhân dễ lo sợ hoang mang khó tính.

IV. CÁC DẠNG PHẢN ỨNG CỦA BỆNH NHÂN

1. Phản ứng hợp tác

Đây là loại nhận thức đúng đắn khi bị bệnh họ biết lắng nghe ý kiến của thầy thuốc hợp tác với thầy thuốc trong quá trình điều trị, quan hệ tốt với nhân viên y tế, thực hiện chỉ dẫn của thầy thuốc, tin tưởng chuyên môn; dễ tiếp thu, gần gũi, cởi mở với người khác.

2. Phản ứng nội tâm

Phản ứng đúng đắn, nghiêm túc có suy nghĩ nội tâm, nghiêm chỉnh tiếp thu (có nghiên cứu) ý kiến của bác sĩ, không phản ứng lung tung, nói đúng lúc đúng chỗ, khi đã đưa ra nhận xét thì khó thay đổi, tính tình trầm lặng, khó tính.

Đối với loại này nếu thầy thuốc đúng mức có uy tín, tác động tâm lý tốt sẽ được bệnh nhân tin tưởng, nhưng nếu sai sót với bệnh nhân thì khó khôi phục được niềm tin và sự kính phục. Vì vậy người cán bộ y tế khi tiếp xúc với người bệnh cần thận trọng, có thái độ đúng mực, tác phong làm việc nghiêm túc có trách nhiệm cao, trau dồi trình độ chuyên môn vững vàng để tạo được niềm tin cho người bệnh.

3. Phản ứng bàng quan

Người bệnh thường coi thường bệnh tật, thờ ơ với tất cả. Thầy thuốc bảo sao nghe vậy, không phấn đấu sốt sắng điều trị mà lơ là nên bệnh không được cứu chữa kịp thời dẫn tới bệnh sẽ trầm trọng thêm, loại bệnh nhân thường ít kêu ca phàn nàn và âm thầm chịu đựng.

Đối với bệnh nhân này, thầy thuốc phải chú ý động viên, thường xuyên chuyện trò để họ có ý thức quan tâm bệnh tật của mình động viên vai trò tích cực khơi dậy tính tích cực. Người thầy thuốc chỉ ra những diễn biến của bệnh, hậu quả của sự coi thường bệnh tật bằng các câu chuyện hay xem băng hình để giúp bệnh nhân có thái độ đúng mực với bệnh.

4. Phản ứng hốt hoảng

Loại này thuộc loại thần kinh không ổn định, không cân bằng, dễ hoang mang dao động, dễ phản ứng không kiềm chế được; khi bị bệnh dù nặng hay nhẹ đều hốt hoảng hoang mang.

Thầy thuốc phải có nghệ thuật, kiên trì tác động nhận thức của bệnh nhân, giải thích rõ ràng, tỉ mỉ những diễn biến của bệnh, động viên an ủi người bệnh, chia xẻ sự lo lắng với người bệnh, giúp bệnh nhân tin tưởng ổn định.

5. Phản ứng nghi ngờ

Loại này luôn nghi ngờ, thiếu tin tưởng, luôn sợ không tìm được thầy thuốc giỏi, không kiếm được thuốc hay nghi ngờ chẩn đoán, kết quả điều trị, nghi ngờ cả xét nghiệm, X quang, hay nghe người khác sinh ra dễ hoang mang dao động.

Đối với bệnh nhân này thầy thuốc phải gây được ấn tượng mạnh mẽ về mặt chẩn đoán, điều ta có hiệu quả, giúp bệnh nhân củng cố niềm tin.

6. Phản ứng tiêu cực

Loại này dễ bị bi quan, lúc nào cũng cho mình là bệnh không chữa được, sẽ tàn phế, sẽ chết, luôn có tư tưởng chờ chết

Thầy thuốc phải luôn gần gũi, nâng đỡ, động viên khuyến khích bệnh nhân, thể hiện lòng yêu thương chu đáo, không gây phản ứng, không gây thêm mầm mống bi quan, tuyệt vọng cho bệnh nhân, không để bệnh nhân cô đơn, tuyệt vọng có ý tưởng tự sát. Phải nuôi trong lòng bệnh nhân một tia hy vọng dù là rất nhỏ.

7. Phản ứng phá hoại

Loại này bệnh nhân không còn thoả mãn với những cái xung quanh, dễ phản ứng có hành động tiêu cực như không chịu uống thuốc, không chịu để nhân viên săn sóc phản đối với nhân viên y tế và bệnh nhân thường gây gổ, cãi vã, hành hung. Đối với loại bệnh này thầy thuốc cần nhẹ nhàng, thương yêu, phân tích, giúp đỡ động viên bệnh nhân, tuy nhiên cũng cần có hành động kiên quyết với các biểu hiện sai lầm cố tình vô tổ chức kỷ luật trong điều trị.

V. TÂM LÝ BỆNH NHÂN NẰM ĐIỀU TRỊ TRONG BỆNH VIỆN

Trừ trường hợp đặc biệt không mấy bệnh nhân muốn nằm viện. Bị bệnh là một sự khổ tâm đối với người bệnh càng khổ tâm hơn khi lại phải nằm viện điều trị; mà khi vào viện lại nhiều khi bệnh nhân không tự phục vụ được mà cần phải có người nhà chăm sóc, người bệnh cảm thấy làm phiền mọi người, nghĩ ngợi và không yên tâm điều trị. Bệnh nhân còn lo lắng cho người ở nhà như chồng hay vợ, con cái vắng mình sẽ ra sao, những điều đó làm ảnh hưởng tới tâm lý người bệnh cũng như kết quả điều trị.

Khi vào viện tuỳ hoàn cảnh môi người mà có băn khoăn lo lắng riêng.

Ví dụ người dân tộc thiểu số khi đến bệnh viện (nhất là ở thành phố lớn) thường lúng túng, tự ti, họ ngỡ ngành với những máy móc hiện đại với phong cách làm việc của nhân viên y tế, họ phải thay đổi nếp sống, sinh hoạt. Đó là chưa kể đến thái độ lạnh nhạt của cán bộ y tế, nói nhiều từ chuyên môn mà họ không hiểu khiến họ ngại ngần. Những bệnh nhân dân tộc thiểu số dù sao họ cũng có những mặc cảm nhất định; chính vì thế người cán bộ y tế cần có thái độ thân mật cởi mở trong buổi đầu tiếp xúc mới xua tan được ngại ngần của người bệnh và mới mong đạt được những yêu cầu mong muốn trong điều trị. Họ còn lo lắng về bệnh tật của mình có nặng không: bệnh nhân không phải là người am hiểu về chuyên môn nên không phân biệt được bệnh nặng hay nhẹ. Trong thời gian đầu bị bệnh đôi khi cũng chưa thể xác định được chẩn đoán nên bác sĩ có giải thích bệnh nhân cũng chưa yên tâm vì thế bệnh nhân hay dò hỏi người xung quanh hoặc có trường hợp còn xem trộm bệnh án.

Họ lo lắng bệnh có điều trị được không, điều trị có lâu hay chóng, ai sẽ là người điều trị cho mình. Đây là điều băn khoăn ở hầu hết các bệnh nhân. Nếu bệnh cần điều trị lâu sẽ có thể ảnh lluullg đến công việc, đảo lộn sinh hoạt gia đình, mức sống giảm sút, làm phiền mọi người trong gia đình và người thân. Sự thay đổi đó khiến bệnh nhân suy nghĩ, một số bệnh nhân còn có cảm giác bồn chồn, hoang mang.

Bệnh nhân quan tâm đến kết quả chẩn đoán, tiên lượng: bệnh nhân nào cũng quan tâm đến kết quả chẩn đoán, tiên lượng bệnh, muốn biết kết quả xét nghiệm, X.quang của mình. Chính vì vậy bệnh nhân trên mọi cách để có được thông tin bằng cách xem trộm hồ sơ bệnh án, theo dõi lời nhận xét của thầy thuốc, cố gắng làm quen với cán bộ y tế để biết về bệnh tật của mình.

Bệnh nhân gần gũi, làm quen với các bệnh nhân cũ nhằm mục đích dò xét, hỏi thăm, tìm hiểu từng bác sĩ, điều dưỡng viên, ai tốt, ai xấu, trình độ chuyên môn của họ ra sao, vấn đề riêng tư như thế nào? Mối quan hệ giữa các thành viên trong khoa phòng? Vì vậy cần xây dựng một tập thể vững mạnh, chăm sóc lẫn nhau, nghiêm túc đúng mực từ đó gây được thiện cảm và lòng tin của bệnh nhân.

Bệnh nhân rất sợ khi phải tiến hành thủ thuật: khi cần tiến hành các thủ thuật (chọc dịch não tuỷ, chọc dò màng phổi, màng bụng, màng phổi…) cần phải làm liệu pháp tâm lý trước đối với bệnh nhân để bệnh nhân xác định tư tưởng trước. Không nên chê dao cùn, kẻo cùn trước mặt bệnh nhân khiến bệnh nhân lo lắng.

Lưu ý với bệnh viện thực hành: tại đây thầy và trò tiếp xúc với bệnh nhân chủ yếu để học lâm sàng. Nói chung bệnh nhân thường tốt, giúp đỡ và tạo điều kiện học tập cho thầy thuốc và những thầy thuốc tương lai. Song về tâm lý họ khá căng thẳng khi biết sinh viên sẽ tiêm, truyền, chọc hút… tức là sinh viên làm thủ thuật cho mình thì cũng có những bệnh nhân sợ hãi thậm chí không cho học sinh tiến hành khám hoặc làm các thủ thuật. Vì vậy muốn học tập và giảng dạy tốt, muốn bệnh nhân hợp tác với mình thì mỗi sinh viên cần phải được trang bị kiến thức về tâm lý y học để có thể tiếp xúc tốt với bệnh nhân. Cần chăm sóc bệnh nhân chu đáo, có trách nhiệm và lòng nhân ái. Sinh viên phải nhiệt tình trong chăm sóc bệnh nhân; không ngại khó, ngại khổ. Người thầy giáo cần phải gần gũi, động viên người bệnh, luôn là tấm gương để sinh viên noi theo, từ đó người bệnh tin tưởng vào thầy giáo cũng như sinh viên, họ sẵn sàng chia sẻ, tâm sự những điều dù là thầm kín và sẵn sàng hợp tác. Điều đó giúp cho việc học tập cũng như giảng dạy được thuận lợi.

Cho bệnh nhân ra viện, chuyển viện:

– Phải có sự chuẩn bị trước, thông báo cho bệnh nhân kết quả điều trị, ánh mọi sự đột ngột đối với bệnh nhân, nếu không họ sẽ lâm vào tình trạng lo âu, bất an, xúc động, hoang mang.

– Dặn dò tỷ mỹ, hướng điều trị tiếp tục tại phòng điều trị ngoại trú hoặc ở nhà, thời gian đến khám lại, hướng dẫn bệnh nhân tỷ mỹ làm các thủ tục ra viện hay chuyển viện.

Bình luận

Bình luận

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Copyright © 2016 Đông y gia truyền - Thuốc nam, thuốc bắc - Bài thuốc đông y

 
Hỗ trợ bán hàng